TIỂU SỬ NGUYỄN KHUYẾN

Go down

TIỂU SỬ NGUYỄN KHUYẾN Empty TIỂU SỬ NGUYỄN KHUYẾN

Bài gửi  Admin on Tue Dec 23, 2008 7:05 pm

Tiểu sử Nguyễn Khuyến*****
Nguyễn Khuyến sinh năm Ất Mùi,1835.Lúc nhỏ tên Nguyễn Thắng .Con của ông Nguyễn Tông Khải và bà Trần Thị Thoan.Nguyên quán:Nghệ An sau chuyển về làng Yên Đỗ,huyện Lục Bình,tỉnh Hà Nam.Năm 1852,17 tuổi,Nguyễn Khuyến cùng cha đi thi nhưng hỏng.Năm sau ông cưới vợ ,người cung làng.Chính người vợ tào khan này đã 1 nắng 2 sương gánh việc nhà để chồng học tập.1854,cha mất,mẹ già yếu.Cuộc sống gia đình ngày càng túng quẫn hơn.Nguyễn Khuyến phải đi làm gia sư để nuôi mẹ.Nguyễn Khuyến được ông nghè Vũ Văn Lý đem về nuôi cho ăn học.Năm 1864,30 tuổi,Nguyễn Khuyến thi hương đỗ giải nguyên .Năm sau thi hội trượt ,Nguyễn Khuyến ở lại Huế học trường Quốc Tử Giám.Năm 1871,lúc đó ông 37 tuổi,Nguyễn Khuyến thi đỗ hội Nguyên rồi Đình Nguyên.Là người đỗ đầu 3 kì thi nên ông được vua phong tặng danh hiệu "Tam nguyên yên đỗ".Sau đó,Nguyễn Khuyến làm việc ở nội các Huế .Năm sau,làm đốc học Thanh Hóa rồi án sát Nghệ An.Năm 1876,ông làm biện lý Bộ hộ.Năm 1877,làm thăng bố chánh Quãng Ngãi.Năm 1879,làm Quốc Sử Quán Huế.Năm 1884,ông được đề cử chức Tổng Đốc Sơn,Hưng,Tuyên nhưng ông không nhận và cáo quan về quê năm ông 50 tuổi.Từ năm1891 đến 1893,ông làm nghề dạy học.Năm 1909,ông mất thọ 75 tuổi.Ông để lại cho đời sau một kho tàng khổng lồ bao,Quế sơn thi tập gồm hơn 200 bài thơ chữ Hán và hơn 100 bài thơ chữ Nôm.Thơ ông xoay quanh 3 nội dung:bộc bạch tâm sự,viết về con người quê hương ông và kích bọn người xấu trong chiến tranh ,nửa thực dân,nửa phong kiến
****************************************************************************************





Chân dung Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến có tên là Nguyễn Văn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi. Sinh ngày 15-2-1835 (tức 18 tháng Giêng năm Ất Mùi).
Ông xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo, hai bên nội ngoại đều có truyền thống khoa bảng. Bên nội quê gốc ở vung Treo Vọt, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, di cư ra Yên Đổ, cho đến thời nhà thơ đã được năm trăm năm. Cụ bốn đời Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Mại, đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Hiến sát sứ Thanh Hóa. Ông thân sinh nhà thơ là Nguyễn Liễn, vẫn theo đòi nho học, đỗ 3 khoa Tú tài, chuyên nghề dạy học để kiếm sống ở xứ vườn Bùi.
Mẹ Nguyễn Khuyến là Trần Thị Thoan, quê làng Văn Khê, tục gọi là làng Ngòi, nay thuộc xã Yên Trung, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Thủa nhỏ Nguyễn Khuyến học cha. Năm 1825, đi thi Hương lần thứ nhất cùng với cha, song không đỗ. Ngay năm sau, địa phương có dịch thương hàn, ông mắc bệnh suýt chết. Cha và em ruột, bố mẹ vợ chồng cùng nhiều họ hàng thân thuộc đều qua đời. Gia đình ông lâm vào cảnh “Tiêu điều, xơ xác, đời sống ngày càng đói rét ”. Bà mẹ phải may thuê và đi làm mướn lần hồi, còn ông thường phải “sách đèn nhờ bạn, một ngày học mười ngày nghỉ ”. Từ năm 1854, đi dạy học lấy lương ăn để tiếp tục học và đi thi. Song trong các khoa thi Hương tiếp theo 1855, 1858 đều bị trượt.
Nghĩ tôi lại gớm cái mình tôi,
Tuổi đã ba mươi kém một thôi...
Bốn khoá Hương thi không đậu cả,
Một mảnh vườn hoang bán sạch rồi.
Có lúc, ông đã nản đường khoa cử, định chuyển nghề dạy học để kiếm sống và nuôi gia đình, thì được người bạn là Vũ Văn Báo nhận chu cấp lương ăn và khuyên đến cùng học với cha mình là Tiến sĩ Vũ Văn Lý ở xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xang (Lý Nhân ngày nay). Bà mẹ ông cũng ân cần, nghiêm khắc khuyên con chớ thoái chí. Do vậy, khoa thi 1864 ông mới đỗ Cử nhân đầu trường Hà Nội. Tiếp theo ông thi Hội các khoa 1865, 1868 đều bị trượt. Ông ở lại Huế, vào học Quốc Tử Giám, khoa năm 1869 lại trượt. Cho đến khoa năm 1871 mới liên tiếp đỗ đầu thi Hội, thi Đình, khi ông đã 37 tuổi.
Dưới triều Nguyễn, cho đến lúc đó mới chỉ có hai người đỗ Tam nguyên (đỗ đầu cả 3 kỳ thi), thì Nguyễn Khuyến là một. Nhưng khác với Trần Bích San (quê ở Vị Xuyên, Nam Định), ông phải lận đận gần 30 năm trời đèn sách, với 9 khóa lều chõng, đó là một cố gắng phi thường.
Đầu tiên, ông được bổ làm Sử quan trong triều; năm 1873, ra làm Đốc học Thanh Hóa, rồi thăng nhanh lên Án sát tỉnh. Năm 1874, ông phải mang quân chặn quân khởi nghĩa (mà sử cũ gọi là lệ phỉ) phạm vào tỉnh Thanh ở vùng Tĩnh Gia, Nông Cống. Đúng lúc ấy bà mẹ ông mất. Ông phải nghỉ ba năm về quê cư tang mẹ. Hết tang, ông vào triều giữ chân Biện lý bộ Hộ. Năm 1877 lại ra làm quan ngoài, giữ chức Bố chính Quảng Ngãi. Rồi làm Toản tu ở Sử quán, từ 1879 đến 1883, vẫn sống trong cảch thanh bần, lại thêm đau yếu, ông đã có tâm trạng chán ngán cảnh quan trường.
Năm 1883, quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai. Rồi Tự Đức chết (19-7-1883), triều Nguyễn phải ký hiệp ước Harmand ngày 25 tháng 8 năm 1883. Nguyễn Khuyến đã được cử làm Phó sứ sang Mãn Thanh. Ông đã ra Bắc, nhưng chuyến đi sứ ấy bị bãi. Ông lấy cớ đau yếu, xin tạm về quê dưỡng bệnh, thì trung tuần tháng 12 năm 1883, triều Nguyễn cử ông làm tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, song ông không chịu đến nhận chức, mà chính thức cáo quan về nghỉ hưu khi mới 50 tuổi.
Một phần tư thế kỷ về ở Yên Đổ này có ý nghĩa quyết định để nhà thơ trở thành bất tử, khi ông tiếp tục sáng tác nhiều và hay hơn nhiều so với thời gian trước đó.
Ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 5-2-1909 (tức 15 tháng Giêng năm Kỷ Dậu), thọ 75 tuổi. Tác phẩm để lại: Quế Sơn thi tập; Yên Đổ Tam nguyên quốc âm thi tập.
Sad

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 2
Join date : 22/12/2008
Age : 23
Đến từ : Quang Nam

Xem lý lịch thành viên http://thcsnguyenkhuyen.forum-viet.net

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết